Thành phần hóa học của mimosa

Mimosa có nhiều thành phần được sự dụng nhiều trong y học đông tây
Lá Mimosa pudica chứa
– Alkaloid : Mimosine (hoạt chất chính) , norepinephrine, crocetin,
crocetin- dimethyl ether. Mimoside (glucoside)
– Acid béo như Linoleic, linolenic, oleic, palmitic, stearic acid..
– Sterol thực vật : Sitosterol..
– Đường hữu cơ : D-xylose, D-glucuronic-acid.
– Acsorbic acid
– Flavonoids, Chất nhày (mucilage)
–  Khoáng chất : đặc biệt nhất là selenium
2387-4f16e43e2ab0a-645x410-5
Dược tính và cách sử dụng  của mimosa bạn nên biết
Mimosa hầu như không được sử dụng trong Y-dược Tây Phương, nhưng được dùng tại Nhật, Ấn độ và Trung Hoa..Tại Việt Nam, cây cũng là dược liệu trong những bài thuốc Nam khá đặc biệt..
Tại Trung Hoa : Rể phơi khô được gọi là Hàm Tu thảo hay Han-shou- cao được dùng để trị bệnh thần kinh, và có đặc tính an thần. Liều thường dùng là 5-7 g dưới dạng thuốc sắc. Phụ nữ có thai không nên dùng. Cây cũng dùng để trị vết thương do chấn thương và để cầm máu. (Kee Chang Huang- The Pharmacology of Chinese Herbs).
Theo Đông Y cổ truyền, Hàm tu thảo có vị ngọt, tính hàn nhẹ, hơi độc có tác dụng an thần, dịu đau, chỉ khái (trị ho), long đờm, lợi tiểu.
Tại Việt Nam : Cây thường được dùng để trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, sưng phế quản, sưng gan, sưng ruột non, phong thấp, tê bại. Rễ được dùng trị sốt rét, kinh nguyệt hiếm..
– Để trị suy nhược thần kinh, mất ngủ : có thể dùng riêng mắc cỡ (15 g) hay phối hợp với Cúc bạc đầu, Chua me đất (mỗi thứ 15 gram), sắc uống buổi tối khi đi ngủ.
–  Để trị đau thắt ngang lưng, nhức mỏi gân cốt : Rễ mắc cỡ rang xong tẩm rượu, sao vàng sắc uồng (15-20 gram) hoẵc phối hợp với Cúc tần ô, Rễ đinh lăng, Cam thảo dây..
Tại Ân độ : Mắc cỡ hay chhuimui, lajwanti (Phạn ngữ : lajjo) . Rễ dùng trị kiết lỵ, nóng sốt, đau buốt khi đi tiểu, sưng đau nướu răng. Lá để
trị vết thương sưng tấy, bị gai đâm, phù chân..

Post Author: coca cola

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *